Lựa chọn loại hình chủ thể kinh doanh nào khi khởi nghiệp?

đăng 06:23, 21 thg 9, 2016 bởi Tran Minh Tri   [ đã cập nhật 06:33, 21 thg 9, 2016 ]
 
Với các bạn trẻ có ý định khởi nghiệp, việc tìm hiểu rõ kiến thức và kinh nghiệm về khởi nghiệp là quan trọng. Bước tiếp theo, các bạn cần phải lập ra bản kế hoạch kinh doanh của mình. Trong khi lập kế hoạch kinh doanh, chắc chắn các bạn sẽ đứng trước một lựa chọn quan trọng, đó là chọn loại hình doanh nghiệp nào để đăng ký kinh doanh.

Theo luật doanh nghiệp hiện hành, có nhiều loại hình doanh nghiệp, hay chủ thể kinh doanh, mà bạn có thể chọn để đăng ký. Mỗi loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm riêng. Tùy vào lĩnh vực kinh doanh, quy mô hoạt động và định hướng phát triển  ..., bạn cần cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định.

Trong khuôn khổ bài viết này, các đặc điểm chủ yếu của một chủ thể kinh doanh chính, phù hợp với người khởi nghiệp, được chia sẻ với các bạn, gồm:

 - Hộ kinh doanh

- Doanh nghiệp tư nhân

- Công ty hợp danh

- Công ty một thành viên TNHH

- Công ty TNHH hai thành viên trở lên

- Công ty Cổ phần

 


Thứ nhất, Hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh là một loại hình kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.[i]

Như vậy, loại hình kinh doanh này phù hợp với những ai muốn khởi nghiệp với số vốn và quy mô nhỏ, thường là những thành viên trong gia đình hoặc nhóm bạn bè thân thiết cùng hợp tác với nhau và thủ đăng kí kinh doanh tại UBND cấp huyện đối với loại hình này cũng khá đơn giản. Tuy nhiên, loại hình kinh doanh này cũng có những bất cập như khả năng rủi ro cao vì hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân và phải chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh của mình. Hơn nữa, khả năng huy động vốn của loại hình này rất hạn chế, và chỉ được phép kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động, nên khi muốn mở rộng phạm vi kinh doanh vượt mức như trên, hộ kinh doanh phải chuyển sang loại hình là doanh nghiệp.

Thứ hai, Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.[ii]

Đây là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, vì vậy cơ cấu tổ chức của loại hình doanh nghiêp này khá đơn giản, tính quyết định của chủ doanh nghiệp bảo đảm cho các hoạt động kinh doanh diễn ra nhanh chóng, gọn lẹ. Đây là cũng là doanh nghiệp tạo được lòng tin của đối tác bằng chế độ trách nhiệm vô hạn của mình. Hơn nữa, quản lý nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân khá cởi mở, chứ không chặt chẽ như các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi, loại hình doanh nghiệp này cũng có những khó khăn nhất định. Vì là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ nên khả năng huy động vốn rất hạn chế và khả năng rủi ro cao do doanh nghiệp này không có tư cách pháp nhân và phải chịu trách nhiệm vô hạn về hoạt động kinh doanh của mình. Điều này có nghĩa, nếu tài sản của doanh nghiệp không đủ để thực hiện các nghĩa vụ kinh doanh, chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản mà mình có cho đến suốt đời.

Loại hình doanh nghiệp nay phù hợp với những cá nhân muốn khởi nghiệp một mình trong thị trường nhỏ như các quán cà phê, tiệm  tạp hóa, văn phòng phẩm, quà lưu niệm…

Thứ ba, Công ty hợp danh

Công ty hợp danh là doanh nghiệp do ít nhất hai cá nhân cùng nhau thành lập, quản lý, cùng kinh doanh dưới một tên chung và cùng chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.[iii]

Loại hình doanh nghiệp này phù hợp với khởi nghiệp giữa người thân thiết, quen biết với nhau, vì công ty hoạt động trên uy tín của các thành viên hợp danh. Về lĩnh vực ngành nghề, công ty hợp danh là lựa chọn cho các các cá nhân kinh doanh những nghành nghề đòi hỏi uy tín cao trong các lĩnh vực như: khám chữa bệnh tư, dịch vụ pháp luật, dịch vụ kiểm toán…

Mặc dù vậy, hạn chế của loại hình doanh nghiêp này là phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn, và khả năng huy động vốn hạn chế do không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào.

Thứ tư, Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)

Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp do tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty TNHH được chia thành hai loại: công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên.[iv]

Khác với những loại hình chủ thể kinh doanh vừa mới nêu trên, thuận lợi của công ty TNHH là chế độ trách nhiệm hữu hạn, nghĩa là doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Hơn nữa, số lượng thành viên công ty thường không nhiều, và thường là những người thân thiết, quen biết nên việc điều hành quản lý không quá phức tạp. Chế độ chuyển nhượng vốn được kiểm soát chặt chẽ nên thành viên sang lập có thể quản lý được sự thay đổi của các thành viên.

Một hạn chế của loại hình này là giới hạn về số thành viên công ty, công ty TNHH một thành viên chỉ có một thành viên là cá nhân hoặc tổ chức, công ty TNHH hai thành viên thì số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa là năm mươi thành viên. Một hạn chế khác của công ty TNHH là không được phát hành cổ phần nên khả năng huy động vốn từ công chúng bằng hình thức đầu tư trực tiếp của loại hình doanh nghiệp này ít nhiều hạn chế hơn loại hình công ty Cổ phần. Hơn nữa, do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên loại hình kinh doanh này chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. Điều này cũng tạo ra những khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tạo ra uy tín đối với đối tác trong giai đoạn khởi nghiệp ban đầu.

Do đó những thuận lợi của mình nên loại hình doanh nghiệp này đang là mô hình được khá nhiều cá nhân khởi nghiệp với quy mô vừa và nhỏ lựa chọn. Vì vậy, nếu bạn là một cá nhân có đầy đủ năng lực tài chính, hoặc là một tổ chức muốn thành lập công ty con thì công ty TNHH một thành viên là lựa chọn phù hợp. Nếu bạn muốn góp vốn với cá nhân hoặc tô chức khác để khởi nghiệp thì công ty TNHH hai thành viên trở lên là lựa chọn phù hợp.

Thứ năm, Công ty Cổ phần

Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau (gọi là cổ phần) và có từ 3 thành viên trở lên (gọi là cổ đông), các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp.[v]

Ưu điểm của loại hình doanh nghiệp trên là khả năng huy động vốn lớn do không giới hạn số lượng thành viên và được quyền phát hành cổ phần, tự do chuyển nhượng cổ phần. Hơn nữa, do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiêp trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp.

Tuy nhiên, do quy mô công ty Cổ phần lớn, nên việc quản lý loại hình doanh nghiệp này khá phức tạp, cổ đông sáng lập có khả năng mất quyền kiểm soát, điều hành công ty, việc quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp khá phức tạp, thậm chí, nhiều vấn đề không thể được thông qua do mâu thuẫn giữa các cổ đông công ty với nhau.

Như vậy, loại hình doanh nghiệp này phù hợp với những nghành nghề yêu cầu số lượng vốn lớn, kinh nghiệm, uy tín như xây dựng, đầu tư, kinh doanh bất động sản, tín dụng, ngân hàng, dệt may…

Ngoài các chủ thể kinh doanh trên, hợp tác xã và công ty nhà nước cũng là những chủ thể kinh doanh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo ý kiến tác giả, hai loại hình chủ thể kinh doanh này không phù hợp cho các cá nhân muốn khởi nghiệp.

Như vậy, tùy theo ngành nghề kinh doanh, phạm vi, số vốn mà mỗi cá nhân khi khởi nghiệp có thể lựa chọn cho mình một hình thức kinh doanh phù hợp. Nếu các bạn quan tâm đến việc ai sẽ được quản lý và thành lập doanh nghiệp? Những giảng viên một trường đại học hay sinh viên chuyên ngành quản trị kinh doanh có quyền thành lập doanh nghiệp và kinh doanh hay không? ..., mời các bạn đón đọc tiếp theo “Quyền quản lý, thành lập và góp vốn vào doanh nghiệp”.

Tác giả: Nguyễn Thị Nhật Linh


Người hiệu đính và đăng bàiTrần Minh Trí 

Ngày đăng: 18/9/2016


Nguồn:


[i] Điều 66, Nghị định 78/2015 quy định về đăng kí doanh nghiệp

[ii] Khoản 1 điều 183 Luật doanh nghiệp 2014

[iii] Điều 172 Luật doanh nghiệp 2014

[iv] K1, điều 47, Điều 73 Luật doanh nghiệp 2014

[v] Điều 110 Luật doanh nghiệp 2014

Comments