Ai có quyền quản lý và thành lập doanh nghiệp?

đăng 01:11, 26 thg 9, 2016 bởi Tran Minh Tri

Sau khi lựa chọn được loại hình doanh nghiệp phù hợp để khởi nghiệp, điều quan trọng tiếp theo là phải xác định được cá nhân hay tổ chức nào có đủ điều kiện để thành lập và quản lý doanh nghiệp? Câu hỏi này có thể là thắc mắc của những giảng viên, cán bộ viên chức và của cả những sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường, những người đang tiếp nhận "hơi nóng" từ làn sóng khởi nghiệp. 

Ai có thể đứng ra lập và quản lý doanh nghiệp?

Để trả lời câu hỏi này, đầu tiên, tôi xin trình bày khái niệm về người quản lý và thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014.

 Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty.

Người thành lập doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân thành lập hoặc góp vốn để thành lập doanh nghiệp. [1]

Theo quy định tại khoản 2 điều 18 Luật doanh nghiệp năm 2014, tất cả các cá nhân, tổ chức đều có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp ngoại trừ:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

Cơ quan nhà nước bao gồm cơ quan lập pháp (Quốc hội và Hội đồng nhân dân), cơ quan hành pháp (Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban Nhân dân) và cơ quan tư pháp (hệ thống tòa án và hệ thống viện kiểm sát).

Lực lượng vũ trang nhân dân gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ[2]

Thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình là việc sử dụng thu nhập dưới mọi hình thức có được từ hoạt động kinh doanh, từ góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào một trong các mục đích sau đây:

- Chia dưới mọi hình thức cho một số hoặc tất cả những người trong cơ quan;

- Bổ sung vào ngân sách hoạt động của cơ quan, đơn vị trái với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước;

- Lập quỹ hoặc bổ sung vào quỹ phục vụ lợi ích riêng của cơ quan, đơn vị.[3]

Cần lưu ý là pháp luật chỉ cấm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang thành lập doanh nghiệp để thu lợi riêng, còn những trường hợp khác, pháp luật vẫn cho phép.

Ví dụ, tập đoàn viễn thông quân đội Viettel do Bộ quốc phòng thành lập hoặc Ủy ban nhân dân TP.HCM quyết định thành lập công ty TNHH một thành viên cấp nước đô thị TP.HCM vẫn được pháp luật cho phép.

b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Ví dụ, giám đốc Sở tài nguyên môi trường TP.HCM là cán bộ, không thể than gia quản lý và thành lập doanh nghiệp.

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.[4]

Cán bộ, công chức không được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.[5]

Ngoài ra, Luật phòng chống tham nhũng cũng không cho pháp cán bộ, công chức thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”[6]

Ví dụ, chuyên viên phòng tổ chức cán bộ tại một trường đại học công lập là công chức nên không thể thành lập và quản lý doanh nghiệp.

Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.[7]

Viên chức không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác[8]

Ví dụ, Giảng viên cơ hữu tại một trường đại học công lập là viên chức nên không thể thành lập và quản lý doanh nghiệp

c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;

d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

Chức danh lãnh đạo quản lý trong doanh nghiệp nhà nước bao gồm:

- Chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty

- Thành viên hội đồng thành viên

- Kiểm soát viên

- Tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc và kế toán trưởng

đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;

Theo quy định tại Bộ luật dân sự Việt Nam 2005, người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi [9]

Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.[10]

Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.[11]

Một tổ chức muốn có tư cách pháp nhân phải đáp ứng được các điều kiện:

-         Được thành lập hợp pháp;

-         Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

-         Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

-         Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.[12]

e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.

Theo quy định của Luật phá sản, người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phá sản.[13]

f) Trường hợp đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh

Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh.

Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.[14]

Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.[15]

g) Trường hợp nhân viên ngoại giao, lãnh sự nước ngoài đặt tại Việt Nam

Viên chức ngoại giao không được tiến hành ở Nước tiếp nhận một hoạt động nghề nghiệp hoặc thương mại nào nhằm mục đích kiếm lợi riêng[16]

Viên chức lãnh sự chuyên nghiệp không được hoạt động nghề nghiệp hoặc thương mại ở Nước tiếp nhận để kiếm lời cho cá nhân[17]

Ngoài ra, đối với những doanh nghiệp trong những lĩnh vực đặc thù, muốn thành lập cá nhân, tổ chức phải còn có những điều kiện nhất định, như chứng chỉ hành nghề, vốn pháp đinh….

Như vậy, từ những cơ sở trên, rõ ràng rằng sinh viên cũng như những công dân trưởng thành không làm trong các cơ quan công quyền đều có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp. Với các giảng viên, cán bộ viên chức hay nói khác đi những người nhận lương từ ngân sách nhà nước không được hưởng quyền trên. Luật cấm đối với các đối tượng này là nhằm tránh tình trạng xung đột lợi ích, công việc, tư lợi và nhằm đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa. 


Không được lập và quản lý doanh nghiệp, vậy liệu các cán bộ viên chức có được góp vốn kinh doanh hay không? Câu trả lời sẽ có trong bài viết tiếp theo vào tuần sau với chủ đề: "Ai có quyền góp vốn vào doanh nghiệp khởi nghiệp?".

Tác giả: Nguyễn Thị Nhật Linh


Người hiệu đính và đăng bàiTrần Minh Trí 

Ngày đăng: 25/9/2016



[1] Khoản 18 và khoản 19 điều 4 Luật doanh nghiệp 2014

[2] Khoản 1 Điều 12 Luật Quốc phòng năm 2005

[3] Khoản 4 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014

[4] Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008

[5] Điều 20 Luật cán bộ, công chức 2008

[6] Điểm b khoản 1 Điều 37 Luật phòng chống tham nhũng 2005 (sửa đổi, bổ sung 2012)

[7] Điều 2 Luật Viên chức 2010

[8] Khoản 3 Điều 14 Luật viên chức 2010

[9] Điều 18 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005

[10] Điều 22 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005

[11] Điều 23 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005

[12] Điều 84 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005

[13] Điều 130 Luật phá sản 2014

[14] Khoản 3, khoản 4 Điều 182 Luật doanh nghiệp 2014

[15] Khoản 1, Điều 175 Luật doanh nghiệp 2014

[16] Điều 42 Công ước Viên về quan hệ Ngoại giao năm 1961

[17] Điều 57 Công ước Viên về quan hệ Lãnh sự năm 1963

Comments